T6, 04 / 2021 9:42 chiều | hanhblue

Zona thần kinh là một bệnh lý tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng có thể gây đau đớn và khó chịu. Hiểu về tình trạng này sẽ giúp bạn có cách nhận biết và điều trị kịp thời. Sau đây là Dấu hiệu của bệnh Zona thần kinh mà bạn nên biết!

Dấu hiệu của bệnh Zona thần kinh

Zona thần kinh là gì?

Bệnh Zona là bệnh gây nên do virus có ái tính với thần kinh. Nó thuộc nhóm virus Herpès. Về kháng nguyên và khả năng phát triển thì virus này giống virus thủy đậu nên người ta xếp vào virus thủy đậu. Bệnh này lây qua tiếp xúc, kết hợp với một số yếu tố như nhiễm khuẩn, nhiễm độc, rối loạn chuyển hóa, các bệnh về máu, mệt mỏi về tinh thần, nhiễm lạnh, sang chấn tinh thần… Cách phòng chống: Tránh tiếp xúc với người bệnh; loại bỏ các yếu tố thuận lợi dễ gây bệnh như đã nêu trên. Chữa trị: Tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ và giai đoạn bệnh, áp dụng các cách sau: Bệnh mới bắt đầu: mụn nước chưa dập vỡ thì dung thuốc dịu da: hồ nước, Ricanol 1%. Khi mụn đã dập vỡ: chấm thuốc màu: dung dịch eosin 2%; thuốc giảm đau: Paracetamol, analgin; thuốc an thần: Rotunda; kháng dị ứng: Polaramin; sinh tố nhóm B và Vitamin C; kháng sinh nhóm Cyclin (phòng bội nhiễm). Trường hợp nặng phải dùng Acyclovir Zovirax 200 mg x 5 viên/ngày, uống 5-7 ngày).

Dấu hiệu của bệnh Zona thần kinh

Tùy thuộc vào dây thần kinh nào bị ảnh hưởng, bệnh Zona có thể xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trong cơ thể

  • Triệu chứng đầu tiên của Zona

Triệu chứng đầu tiên của Zona thường là tăng cảm giác da hoặc cảm giác đau ở 1 phía của cơ thể. Những cảm giác da có thể gặp là ngứa, căng, bỏng, nhức dai dẳng hoặc đau sâu, đau nhói.
Thông thường thì sau khi cơn đau xuất hiện được 1-3 ngày các dải ban sẽ nổi lên, tấy đỏ, phồng lên ở ngay vị trí đau. Sau đó nó sẽ tụ mủ và đóng vảy trong 10-12 ngày.
2 – 3 tuần sau, ban sẽ biến mất và vảy rơi ra và có thể để lại sẹo.

  • Khi nào cần đến gặp bác sĩ

Đi khám khi bạn bị đau hoặc nổi ban thành 1 dải ở một phía của cơ thể. Nếu bạn nghĩ bạn bị Zona, đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt vì những thuốc kháng virus chỉ hiệu quả khi được sử dụng sớm.Nếu vết ban và vết phồng nổi lên ở mũi hoặc gần mắt, bạn cần phải đi khám ngay lập tức vì virus có thể lan đến mắt làm tổn thương mắt và mù.

Bạn cũng cần phải đến khám càng sớm càng tốt nếu bạn đang có những bệnh làm suy giảm sức miễn dịch của cơ thể. Nhờ đó bạn có thể tránh được những biến chứng.

  • Đến phòng cấp cứu nếu như có các dấu hiệu:

Bệnh Zona kèm với sốt cao hoặc mệt mỏi.
Vết phồng lan ra những khu vực khác của cơ thể.

  • Lâm sàng và cận lâm sàng

Kiểu đau kinh điển, vết phồng nổi lên thành 1 dải ở 1 bên của cơ thể là tất cả những dấu hiệu cần thiết đủ để bác sĩ chẩn đoán bạn đã bị nhiễm Herpes Zoster. Ban có thể lan ra ngoài dải này hoặc hiếm gặp hơn là lan sang phía bên kia của cơ thể. Đôi khi bệnh nhân chỉ đau theo 1 dải mà không thấy nổi ban.

Có thể bác sĩ sẽ quyết định làm xét nghiệm để xác định xem bạn có bị Zona hay không. Tuy nhiên, những xét nghiệm này không phải lúc nào cũng cần thiết.

Phết Tzanck: hiện nay ít được sử dụng hơn trước do những kỹ thuật mới đã xuất hiện, người ta rạch vết phồng và lấy dịch cùng với các tế bào da trong đó đặt lên slide. Sau đó nhuộm màu bằng 1 loại thuốc nhuộm đặc biệt rồi đưa lên kính hiển vi để tìm những biến đổi của tế bào gây ra bởi virus. Phương pháp này không thể giúp phân biệt được giữa VZV và Herpes Simplex Virus (HSV), tuy nhiên VZV gây bệnh zona và thủy đậu còn HSV gây ra bệnh Herpes simplex (đôi khi thường được biết đến bằng cái tên Herpes môi hoặc Herpes sinh dục).

Cấy virus hoặc test kháng thể đặc biệt, như DFA (direct fluorescent antibody – kháng thể huỳnh quang trực tiếp), trong sang thương có thể xác định được VZV. DFA thường cho kết quả sau 1 giờ. Xét nghiệm này có thể giúp phân biệt được giữa VZV và HSV. Cấy virus có thể cho kết quả sau 2 tuần hoặc hơn.

Sinh thiết da: lấy một mẩu da ở sang thương và xem xét chúng dưới kính hiển vi. Có thể dùng mô sinh thiết để cấy nếu không có mẩu sang thương nguyên vẹn. Ngoài ra người ta còn có thể dùng PCR (polymerase chain reaction) để phát hiện ra DNA của virus trong mẫu mô được sinh thiết.

Hy vọng bài viết hữu ích cho bạn. Chúc bạn luôn khỏe!

Bài viết cùng chuyên mục